Chuyên đề 1: Asen (thạch tín) nguy hiểm như thế nào?

0
332

Asen là một nguyên tố rất phổ biến trong tự nhiên, tồn tại dưới nhiều dạng hợp chất khác nhau cả vô cơ lẫn hữu cơ. Asen rất độc và có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua chuỗi thức ăn, nước uống và không khí.
Khoảng 10 năm gầy đây, nhiều nước đang gặp phải vấn đề ô nhiễm asen ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, phần lớn sự nhiễm độc asen là thông qua việc sử dụng nguồn nước, lương thực, thực phẩm ở những vùng đất và không khí ô nhiễm asen.
Vấn đề nguồn nước ngầm bị nhiễm Asen trở thành một vấn đề được quan tâm ở nhiều quốc gia khắp thế giới. Asen trong nước ngầm tạo ra mối đe dọa sức khỏe ở nhiều dạng bệnh: khi nhiễm As, nồng độ vượt quá mức, nó là tác nhân gây bệnh lở loét, khối u ác tính, ung thư và nhiều bất lợi khác cho sức khỏe con người.
Nhiễm độc asen gây ra những bệnh hiểm nghèo cho con người và đáng lo ngại là hiện nay chưa có phương pháp hiệu quả nào để điều trị những căn bệnh ung thư quái ác này.
Về mặt sinh học, Asen là chất độc có thể gây 19 bệnh khác nhau trong đó có ung thư da và phổi. Mặt khác, Asen có vai trò trong trao đổi nuclein, tổng hợp protit và hemoglobin. Asen ảnh hưởng đến thực vật như một chất cản trở trao đổi chất, làm giảm mạnh năng suất, đặc biệt trong môi trường thiếu photpho. Độ độc của asen phụ thuộc vào trạng thái oxi hóa của asen, phụ thuộc vào dạng tồn tại vô cơ hay hữu cơ. Asen (III) độc hơn nhiều so với As(V), asen vô cơ độc hơn rất nhiều so với asen hữu cơ. Qua nhiều nghiên cứu người ta thấy rằng độ độc giảm dần theo thứ tự: Asin > asenit > asenat > monometyl asenat > dimetyl asenat. Dạng xâm nhập chính vào cơ thể là asen dạng vô cơ, đặc biệt là Asen(III) dễ hấp thụ vào cơ thể con người qua đường ăn uống. Các hợp chất asenit và asenat vô cơ bền, có khả năng hòa tan trong nước dễ dàng hấp thụ vào dạ dày và các tế bào của cơ thể. As(V) được bài tiết (chủ yếu qua nước tiểu) nhanh hơn As(III) vì ái lực với nhóm thiol (-SH) kém hơn. As(III) cản trở nhóm (-SH) gắn vào các enzym và giữ lại trong các protein tế bào của cơ thể như keratin đisunfua trong tóc, móng và da. As(V) không độc bằng As(III) và không gây ức chế đối với hệ enzym. Tuy nhiên, As(V) lại ngăn cản sự tổng hợp ATP.
Trong môi trường sinh thái, các dạng hợp chất của As(III) có độc tính cao hơn dạng hợp chất của As(V). Môi trường khử là điều kiện thuận lợi để cho nhiều hợp chất As(V) chuyển sang As(III). Trong những hợp chất Asen thì H3AsO3 độc hơn H3AsO4. Dưới tác dụng của các yêu tố oxy hóa trong đất thì H3AsO3 có thể chuyển thành dạng H3AsO4. Thế oxy hóa – khử, độ pH của môi trường và lượng kaloit giàu Fe3+ là những yếu tố quan trọng tác động đến quá trình oxy hóa – khử các hợp chất Asen trong tự nhiên. Những yếu tố này có ý nghĩa làm tăng hay giảm sự độc hại của các hợp chất Asen trong môi trường sống.
Asen ở dạng hợp chất vô cơ được sử dụng làm chất độc (thạch tín) từ thời xa xưa. Một lượng lớn Asen loại này có thể gây chết người. Với liều lượng nhẹ hơn có thể dẫn đến tổn thương các mô hay các hệ thống của cơ thể. Một tác động đặc trưng khi bị nhiễm độc Asen dạng hợp chất vô cơ qua đường miệng là sự xuất hiện các vết màu đen và sáng trên da, những “hạt ngô” nhỏ trong lòng bàn tay, lòng bàn chân và trên mình nạn nhân. Nếu không được chữa trị đúng cách và kịp thời, những hạt nhỏ này có thể sẽ biến chứng gây ung thư da, ung thư trong cơ thể, nhất là ở gan, thận, bang quang và phổi.
Liên quan đến việc xác định, đánh giá tác động của Asen đối với cơ thể, trong một số năm gần đây đã có các nghiên cứu phân tích mẫu tóc, máu để xác định hàm lượng Asen. Nghiên cứu phân tích hàm lượng Asen trong tóc cho thấy có sự tương đồng giữa các vùng ô nhiễm nước ngầm bởi Asen. Số liệu phân tích tại Thượng Cát (điểm đối chứng với nước không bị nhiễm Asen, Asen < 10 µg/l) và Vạn Phúc, Sơn Đồng (điểm nghiên cứu với nước bị nhiễm Asen với hàm lượng cao, Asen > 50 µg/l ) cho thấy: giá trị Asen trong tóc người ở mẫu đối chứng chỉ là 0,27 mg/kg (trong khoảng 0,04 ÷ 0,84 mg/kg), trong khi đó ở mẫu nghiên cứu bị nhiễm Asen là 0,79 mg/kg (0,01 ÷ 3,3 mg/kg) và 1,61 mg/kg (0,16 ÷ 10,36 mg/kg). Tại Sơn Đồng, 70% số mẫu có nồng độ Asen trong tóc lớn hơn 1 mg/kg, có những mẫu lên tới 10 mg/kg. Kết quả này có thể so sánh với nghiên cứu ở vùng Tây Bengan Ấn Độ, nơi bị nhiễm Asen nặng với hàm lượng Asen trong tóc người dân khoảng 3 ÷ 10 mg/kg. Giá trị tiêu chuẩn của WHO là 0,02 ÷ 0,2 mg/kg. Kết quả nghiên cứu tại Hà Nam năm 2004 cũng cho thấy ở Hín Hụ và Bang Mon nằm trên đới biến đổi nhiệt dịch có hàm lượng Asen cao, có biểu hiện nhiễm độc mãn tính, làm tăng trội theo một số bệnh như sốt rét, tiêu hóa, tâm thần, bệnh xương khớp, tim mạch, viêm phổi.
Asen là một nguyên tố rất phổ biến trong tự nhiên, tồn tại dưới nhiều dạng hợp chất khác nhau (cả vô cơ lẫn hữu cơ). Asen là một thành phần tự nhiên của vỏ trái đất, thường có trong rau củ, thực phẩm, trong cơ thể động vật với nồng độ rất nhỏ. Khi tiếp xúc với môt trường ô nhiễm asen, asen xâm nhập vào cơ thể, khi đó hầu hết asen được chuyển hóa thành dạng hữu cơ ít độc hơn và thải ra ngoài trong vài ngày, nhưng một lượng không nhỏ asen vẫn tích tụ lại trong não, các mô da, tóc móng, răng, trong các bộ phận giàu biểu mô như thực quản, dạ dày, ruột non…

Nước ô nhiễm asen là nguồn chính gây nhiễm độc asen trong cộng đồng. Asen được mệnh danh là “sát thủ vô hình” do asen không gây mùi vị khó chịu cũng như không gây biến đổi màu sắc của nước khi có mặt trong nước ngay cả với lượng đủ làm chết người nên không thể phát hiện bằng cảm quan.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here